Giải pháp an ninh năng lượng phù hợp với Việt Nam

Giải pháp an ninh năng lượng phù hợp với Việt Nam

An ninh năng lượng của một quốc gia được quan tâm sẽ hỗ trợ tránh tình trạng thiếu hụt năng lượng. Nhất là các cường quốc trên thế giới vấn đề này cần phải càng được chú trọng triệt để. Với Việt Nam cũng cần phải chuẩn bị trước những giải pháp an ninh năng lượng phù hợp để kịp thời đưa ra giải pháp nếu tình trạng thiếu năng lượng xảy ra.

Giải pháp an ninh năng lượng cho Việt Nam

1). Tiết kiệm năng lượng và hiệu quả sử dụng được đánh giá là giải pháp luôn được ưu tiên vì là giải pháp đòi hỏi đầu tư thấp hơn nhiều so với các giải pháp khác. Nhiều nội dung vận động mọi người có ý thức tiết kiệm và sử dụng hiệu quả NL đang được triển khai mạnh mẽ trong một chương trình mục tiêu quốc gia. Các cuộc vận động người dân với khẩu hiệu: “Tắt bớt đèn khi không cần thiết và trước khi ra khỏi phòng”; “đặt máy điều hòa ở mức 27o-28oC”; khuyến khích người tiêu dùng “Thay bóng đèn sợi đốt bằng đèn huỳnh quang và đèn compact”; chương trình “Tiến hành dán nhãn các thiết bị điện tiết kiệm NL và khuyến khích người dân sử dụng thiết bị tiết kiệm NL”; thực hiện công tác kiểm toán NL để các hộ công nghiệp và thương mại có các biện pháp sử dụng NL hiệu quả nhất…

Theo đánh giá, thực hiện tốt “Chương trình mục tiêu quốc gia về tiết kiệm và hiệu quả năng lượng” có thể giảm được nhu cầu tiêu thụ NL cuối cùng tới trên dưới 10% trong vòng 5 năm tới.

2). Tăng cường công tác khảo sát thăm dò các nguồn tài nguyên năng lượng để nâng cao tiềm năng và trữ năng NL là giải pháp thường xuyên nhằm tăng cường khả năng khai thác sản xuất các nguồn năng lượng sơ cấp, giảm bớt sự phụ thuộc bên ngoài.

Với ngành than, các giải pháp này bao gồm: đẩy mạnh công tác thăm dò đánh giá trữ lượng than trên mức -300m, và tìm kiếm sâu từ -400 đến -1.100 tại vùng than Quảng Ninh; khuyến khích các địa phương có các điểm than đầu tư thăm dò, để khai thác phục vụ cho nhu cầu tại chỗ; tranh thủ các nguồn vốn để thăm dò đánh giá trữ lượng và nghiên cứu khả năng khai thác vùng than đồng bằng sông Hồng.

Với ngành dầu khí: khuyến khích và đẩy nhanh công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí; xây dựng một hệ thống tổ chức rõ ràng và hiệu quả để giám sát hợp đồng và xét trao thầu các lô thăm dò; định kỳ xem xét, điều chỉnh các điều khoản về tài chính để việc đầu tư thăm dò, phát triển dầu khí ở Việt Nam cạnh tranh được với các nước khác. Ưu tiên phát triển, khai thác và sử dụng khí thiên nhiên. Khuyến khích và ưu đãi cho các nhà đầu tư thăm dò và khai thác các mỏ khí, đặc biệt là các mỏ khí có trữ lượng giới hạn biên. Đa dạng hóa hình thức đầu tư. Có chính sách khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng công nghệ cao để khai thác các mỏ dầu, khí có trữ lượng giới hạn biên…

3). Đa dạng hóa các nguồn NL là giải pháp tổng hợp, bao gồm giải pháp đa dạng hoá khai thác sử dụng các loại nguồn NL khác nhau. Song song với khai thác các nguồn tài nguyên NL trong nước, cần nghiên cứu ứng dụng các loại nguồn NL khác như: phát triển sử dụng NL hạt nhân cho phát điện; nhập khẩu điện và xây dựng các nguồn điện từ các nước láng giềng Lào, Campuchia, Trung Quốc để đưa điện về nước ta, nhập khẩu khí hoá lỏng LNG cho sản xuất điện… Đa dạng nguồn năng lượng còn biểu hiện ở đa dạng hoá các chủ sở hữu khai thác kinh doanh ngành NL, gồm cả chủ sở hữu trong nước và nước ngoài (ví dụ các dự án nguồn điện IPP, BOT…), nhằm huy động vốn, nguồn lực và công nghệ hiện đại cho đảm bảo cung cấp NL.

4). Tăng cường năng lực nội địa về cung cấp các sản phẩm NL là một giải pháp có tính nguyên tắc, trong đó cần quan tâm tới xây dựng các cơ sở chế biến, dự trữ NL. Trong Quy hoạch tổng thể phát triển năng lượng đã đưa vào kế hoạch xây dựng nhà máy lọc dầu thứ hai và thứ 3 nhằm chủ động sản xuất các sản phẩm dầu (xăng, dầu hoả, diesel, dầu FO, mazut, xăng máy bay, khí LPG…) cung cấp cho nên kinh tế, đồng thời có kế hoạch xây dựng các kho xăng dầu để tăng số ngày đảm bảo dự trữ nhiên liệu quốc gia lên tới 60 ngày và 90 ngày vào năm 2020 và 2030 tương ứng.

5). Thúc đẩy phát triển NL tái tạo 7 (NLTT) là một trong những giải pháp ngày càng được quan tâm, nhất là khi thị trường thế giới về nhiên liệu-NL phi tái tạo (than, dầu khí) đang ngày càng có nhiều thách thức về khả năng khai thác, về giá cả và về các cuộc khủng hoảng chính trị. Mặc dù năng lượng tái tạo có những đặc điểm hạn chế về tính phụ thuộc thời tiết, giá cả thiết bị cao, khả năng khai thác thiết bị thấp hơn các loại nguồn khác, nhưng Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách khuyến khích mạnh mẽ để dạng NL này ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng thể các nguồn NL8. Đặc biệt phát triển NLTT ở các vùng miền núi, biên giới, hải đảo còn có ý nghĩa về tăng cường năng lực an ninh quốc phòng.

6). Giải pháp giá, hình thành và phát triển thị trường NL, thị trường điện lực cạnh tranh là giải pháp tất yếu lâu dài, thúc đẩy sử dụng tiết kiệm NL, thúc đẩy sự cạnh tranh hiệu quả trong sản xuất – truyền tải – phân phối và sử dụng NL. Chính sách giá năng lượng được coi là một trong những chính sách đột phá; nhanh chóng xóa bỏ độ c quyền, bao cấp trong cả sản xuất và tiêu dùng năng lượng. Giá năng lượng cần được xác định phù hợp với cơ chế thị trường; Nhà nước điều tiết giá năng lượng thông qua chính sách thuế và các công cụ quản lý khác. Đưa giá cả NL về mức phản ánh đúng giá trị đầu vào còn nhằm mục tiêu hỗ trợ các giải pháp về đa dạng hoá đầu tư NL, khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào thị trường sản xuất, cung cấp NL.

Những giải pháp năng lượng phù hợp với Việt Nam giúp cho giá cả điện, than, dầu,… tại nước ta thấp hơn các nước trên thế giới. Từ đó góp phần hỗ trợ cho nền kinh tế của Việt Nam.

Chia sẻ bài viết